Thursday, December 12, 2013

Sếu đầu đỏ - Sarus Crane

by Nguyen Van Hung
Sếu đầu đỏ là loài chim được rất nhiều người biết đến danh tiếng từ lâu như là loài chim biết bay cao nhất, là 1 trong con vật tứ linh, là loài chim đẹp đến mê hồn với những vũ điệu say đắm, là loài đang bị đe doạ tuyệt chủng do mất sinh cảnh sống, là biểu tưởng của hệ sinh thái đất ngập nước và biểu tượng của VQG Tràm Chim.
Tuy vậy, việc hiểu biết cặn kẽ những thông tin về loài này thì không phải ai cũng nắm được, ngay cả những người nghiên cứu trong ngành sinh học bảo tồn cũng còn hơi mơ hồ. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi muốn cung cấp thêm thông tin chi tiết về Sếu đầu đỏ để bạn đọc có được cái nhìn tổng quát hơn. Bài viết đi sâu vào việc tổng hợp tài liệu thông tin khoa học từ nhiều nguồn nên hơi dài và có lẽ sẽ rất nhàm chán cho người đọc. 

1. Phân loại

Lớp Aves Bộ Gruiformes / Họ Gruidea / Họ phụ Gruinae / Giống Grus / Loài Grus antigone (Linnaeus, 1758) Loài phụ G. a. sharpii
Họ Sếu Gruidea có 2 họ phụ là Balearicinea và Gruinae với tổng cộng 15 loài được tìm thấy ở 5 lục địa (không có ở Nam Mỹ). Họ phụ Balearicinae có 2 loài và họ phụ Gruinae có 13 loài. Ở khu vực Đông Nam Á có 4 loài, Việt Nam ngoài Sếu đầu đỏ còn có 2 loài khác là Sếu xám Grus nigricollis tìm thấy ở đồng bằng Bắc bộ và bắc Trung bộ, Sếu cổ trắng Grus grus lifordi tìm thấy ở đồng bằng Bắc bộ và ven biển miền Trung (Võ Quý 1975). Tuy nhiên loài Sếu xám và Sếu cổ trắng từ lâu đã không còn thấy ở Việt Nam. 

Sếu đầu đỏ ở VQG Tràm Chim - ảnh Nguyễn Hào Quang/Wildtour

Sếu đầu đỏ Grus antigone là loài chim biết bay lớn nhất hành tinh với chiều cao trung bình 167 cm, cân nặng trung bình 6,35kg, sải cánh 240 cm. (Archibald & Lewis 1996), bộ lông hầu hết có màu xám, đầu và phía trên cổ có màu đỏ, bao cánh sơ cấp và bao cánh thứ cấp màu đen, mỏ dài màu xanh nhạt, chân màu đỏ nhạt, vào mùa sinh sản đầu và cổ đỏ tươi hơn. Loài Grus antigone gồm 3 loài phụ. 
(1) Loài phụ Ấn Độ (Indian Sarus Crane) G. a. antigone phân bố ở Ấn độ, phân biệt với loài phụ G. a. sharpii bởi màu trắng ở cổ và có kích thước cao hơn. (3) Loài phụ Châu Úc (Australian Sarus Crane) G. a. gilli phân bố ở Úc, có kích thước nhỏ hơn và phần màu đỏ ở cổ không kéo dài xuống phía dưới so với hai loài phụ còn lại(Archibald & Lewis 1996). (3) Loài phụ Phương Đông (Eastern Sarus Crane) G. a. sharpii phân bố ở các nước Campuchia, Việt Nam, Lào,  Thái Lan, Myanmar và Trung Quốc. Ngoài ra còn có một loài phụ G. a. luzonica (có thể giống với loài phụ sharpii hoặc gilli) đã từng có phân bố ở Philippinnes nhưng bây giờ xem như đã tuyệt chủng (Kenneth L. Jones et al. 2005; Meine & Archibald 1996).

Kết quả phân tích thành phần DNA của bốn quần thể sếu ở Ấn Độ, Úc, Đông Nam Á và Myanmar cho thấy không có sự khác biệt lớn (Kenneth L. Jones et al. 2005). Vì vậy, các tác giả này cũng đề nghị rằng hai loài phụ G. a. antigoneG. a. sharpii chỉ là một nhưng chúng được tách biệt thành 2 quần thể sinh sản riêng biệt và quần thể ở Myanmar có thể là chuyển tiếp giữa 2 quần thể này. Tương tự, loài phụ G. a. galli có nguồn gốc từ loài phụ sharpii và được tách rời quần thể ở châu Á.

2. Phân bố và sự di chuyển theo mùa
Quần thể G. a. sharpii  được biết với hai quần thể tách biệt, một quần thể phân bố ở Myanmmar và Trung Quốc và một quần thể ở khu vực Đông Nam Á.
Ở Myanmar, sếu tập trung ở khu vực Ayerawady, khu vực Bago và các bang Kachin, Shan, Rakhine, Yangon. Ở Trung Quốc thì rất hiếm, một ghi nhận gần đây là 1 con sếu con bị bẫy ở khu bảo tồn thiên nhiên Napahai, phía tây tỉnh Yunnan (Archibald et al. 2003; Barzen & Seal 2000). Ở Đông Nam Á, sếu được tìm thấy ở Campuchia, Lào và Việt Nam. 
Quần thể ở Myanmar có tập tính tương đối giống như loài phụ Ấn Độ G. a. antigone, chúng làm tổ ở các vùng đất ngập nước tự nhiên và các vùng đất nông nghiệp ẩm ướt vào mùa mưa và tập trung thành bầy ở những vùng ngập nước  tự nhiên vào mùa khô (Archibald et al. 2003). Trong khi đó, quần thể ở Đông Nam Á, sếu làm tổ ở tây bắc Campuchia và có khu vực di cư vào mùa không sinh sản với khoảng cách từ 200 – 300km (Archibald et al. 2003; Barzen & Seal 2000), một số sếu sống định cư ở khu vực sinh sản. Sếu làm tổ ở khu vực Ang Trapeang Thmor thường có bán kính di chuyển khoảng từ 50km đến 100km trong mùa không sinh sản khi mực nước ở Tonle Sap (biển hồ) xuống  thấp (Archibald et al. 2003). 

Ở Việt Nam, trong quá khứ (khoảng năm 1924) có thể gặp từng đôi hoặc từng nhóm nhỏ ở trung Trung bộ và Nam bộ (BirdLife International 2006). Một số thông tin khác cho rằng trong thập niên 1950, sếu thường sinh sản ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Duc, 1987). Những ghi nhận gần đây cho thấy sếu được tìm thấy ở Tràm Chim - tỉnh Đồng Tháp; Kiên Lương - tỉnh Kiên Giang, Lò Gò Xa Mát ­tỉnh Tây Ninh và khu vực thuộc huyện Buôn Đôn và Ê Súp tỉnh Đắk Lắk (ICF unpub. database). Trong đó VQG Tràm Chim và khu vực Kiên Lương là 2 khu vực Sếu tập trung vào mùa khô, thường chúng đến đây bắt đầu từ tháng 12, nhiều nhất là vào cuối tháng 3. Đầu tháng 4 và đến khoảng tháng 6 thì chúng di chuyển đến khu vực sinh sản. Ở khu vực thuộc tỉnh Đắk Lắk, đã có nhiều ghi nhận Sếu xuất hiện với số lượng nhỏ, 1 đến 2 cá thể cả trong mùa mưa lẫn mùa khô, tháng 6 năm 1997 (Canh et al. 1997) tháng 3 năm 2004 (Tu & Can 2004), tháng 7, tháng 11 năm 2004 (Bao et al. 2004) và tháng 11 năm 2005 (quan sát cá nhân) . Ở VQGYĐ Lò Gò Xa Mát, những ghi nhận gần đây cho thấy có thể đây là điểm dừng chân trong trên đường di chuyển về khu vực sinh sản (Tordoff et al. 2002). Ở VQG Cát Tiên, chỉ một quan sát khi một cá thể bay ngang vào năm tháng 2 năm 2000 (IUCN 2006).


Ở Campuchia, sếu có thể tìm thấy ở nhiều khu vực khác nhau thuộc các tỉnh Banteay Meanchey, tập trung nhiều nhất ở khu vực Ang Trapeang Thmor, sếu có mặt ở khu vực này quanh năm nhưng tập trung thành các đàn lớn từ tháng 12 đến tháng 6; tỉnh Takeo, tập trung ở Boeung Prek Lapouv từ tháng 12 đến tháng 4; tỉnh Preah Vihear gồm nhiều khu vực khác nhau trong đó khu bảo vệ Kulen Promptep Wildlife Sanctuary là khu vực sinh sản chủ yếu của sếu, một số sống định cư ở đây quanh năm; Ở các tỉnh Siem Reap, Kampong Thom, Mondul Kiri, Oddar Meanchey, Prey Veng, Rottanakiri, Stung Treng có sự xuất hiện của sếu nhưng số lượng cá thể không nhiều (tổng hợp từ nhiều nguồn).


Ở Lào, các ghi nhận gần đây (từ năm 1992 -2000) cho thấy sếu xuất hiện ở tỉnh Champasak và Savanaket với số lượng từ 1 đến 5 cá thể. Một ghi nhận vào tháng 8 năm 1996 về sự sinh sản của sếu ở Se Pian, tỉnh Champasak tuy nhiên không có số liệu chi tiết (ICF unpub. database).


Từ những số liệu ghi nhận ở trên có thể thấy chu kỳ di chuyển của quần thể Sếu ở Đông Nam Á trong một năm phụ thuộc vào các yếu tố môi trường thay đổi giữa mùa mưa và mùa khô. Mùa sinh sản xảy ra trong mùa mưa, khi đó sếu tách thành từng đôi và chiếm vùng lãnh thổ sinh sản của mình ở các khu rừng ở Nam Lào, Tây Băc Campuchia và Tây Nguyên Việt Nam.
Bản đồ phân bố Sếu đầu đỏ ở Đông Dương - Nguyễn Hoài Bão
3. Sinh học
Thức ăn
Tất cả các loài thuộc họ Sếu đều là động vật ăn tạp, thức ăn của chúng bao gồm các loại hạt ngũ cốc, thực vật thuỷ sinh, rễ cỏ, côn trùng, ốc, ếch nhái, cá… chúng dùng mỏ để tìm thức ăn ở mặt đất hoặc trên cây cỏ. Chim non được bố mẹ chúng nuôi dưỡng (cho ăn) cho đến khi chúng có thể tự kiếm ăn (Walkinshaw 1973).

Môi trường sống
Sếu đầu đỏ hầu như chỉ sống ở các vùng đất ngập nước. Vào mùa khô, những gia đình sếu tập hợp lại thành đàn sống ở những đồng cỏ ngập nước. Vào mùa sinh sản, sếu kết đôi và chiếm từng vùng lãnh thổ riêng khoảng 40 – 60 ha (Walkinshaw 1973).

Sinh học sinh sản

Sinh học sinh sản của loài phụ Phương Đông chưa được nghiên cứu chi tiết. Các ghi nhận gần đây cho thấy sếu làm tổ ở các vùng đất ngập nước nằm rải rác trong rừng dầu ở Campuchia và Lào (Archibald et al. 2003; Bao et al. 2004; Barzen 2003). Hình 1.3 cho thấy tổ của sếu được ghi nhận trong những năm gần đây phần lớn nằm trong các khu bảo vệ ở phía tây Campuchia và đều vào khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 (Bao et al. 2004; Barzen 2003). Ở Lào cũng có một số thông tin cho rằng có sếu làm tổ tuy nhiên không có thông tin chi tiết (Barzen & Seal 2000). Ở quần thể Myanmar, tổ sếu được tìm thấy ở các vùng đất ngập nước tự nhiên có diện tích vào khoảng 10 ha, một số ghi nhận gần đây thấy chúng làm tổ ở các đồng lúa ngập nước (Archibald et al. 2003).

Kết đôi và làm tổ

Sếu là loài đơn thê hoàn toàn, tỷ lệ giới tính trong quần thể khoảng 1:1. Tuổi bắt đầu sinh sản của tất cả các loài sếu ước tính khoảng 4 tuổi (Meine & Archibald 1996b). Sếu sắp trưởng thành (sub-adult) kết đôi vài lần trước khi chúng có thể sinh sản thành công và chúng thường bắt đầu đẻ trứng sau 1 hoặc 2 năm kết đôi (Mirande et al. 1996a). Sau khi đã kết đôi, các đôi chung sống trong thời gian dài và chúng thường quay trở lại và bảo vệ lãnh thổ sinh sản của chúng mỗi năm mỗi năm (Swengel et al. 1996).
Loài phụ G. a. antigone sử dụng các vật liệu có sẵn xung quanh chổ làm tổ, chúng dùng mỏ nhổ cỏ và xây thành một đống để đẻ trứng. Sếu làm tổ ở nhiều sinh cảnh ngập nước khác nhau bao gồm các vùng đầm lầy tự nhiên và các đồng lúa nước (Archibald et al. 2003; Borad et al. 2001). Cũng theo kết quả nghiên cứu của Borad và cộng sự từ năm 1996 đến năm 1998 về sự làm tổ của loài phụ Ấn Độ ở các vùng đất nông nghiệp ở Ấn Độ (Borad et al. 2001) thì có đến 97% tổ sếu được tìm thấy ở khu vực đất trồng trọt và 3% tìm thấy ở các hồ nước.

Sinh sản
Tất cả các loài sếu đều đẻ 2 trứng, thời gian ấp trứng khoảng 35 đến 40 ngày. Thời gian con non được bố mẹ chăm sóc khoảng 98 đến 120 ngày, tuy nhiên con non thường chung sống với bố mẹ trong thời gian ít nhất là 10 tháng hoặc cho đến khi bố mẹ chúng sinh sảnh trở lại trong năm sau (Walkinshaw 1973).
Tỷ lệ chim trưởng thành sinh sản trong quần thể sếu ở ngoài tự nhiên rất khó để ước tính vì chúng có vùng lãnh thổ trong mùa sinh sản rất rộng lớn (Johnsgard 1983). Quan sát loài G. americana nuôi nhốt trong thời gian từ 1969 đến 1991 cho thấy trung bình khoảng 50% sếu trưởng thành sinh sản trong một năm và 64% trong số đó sinh sản thành công (Mirande et al. 1991). Tỷ lệ con non trong quần thể Đông Nam Á ước tính khoảng 12.5% (Barzen & Seal 2000).

4. Hiện trạng - Đe doạ và các vấn đề bảo tồn

Sếu đầu đỏ trước đây hiện diện khắp nơi ở lục địa châu Á. Trong thập niên 1950, hơn 5000 cá thể sếu phân bố phổ biến từ Myanmar đến Việt Nam và từ tỉnh Yunan – Trung Quốc đến bán đảo Thái Lan (Archibald et al. 2003; BirdLife International 2006). Hiện nay số lượng quần thể G. a. sharpii ước tính chỉ còn lại khoảng 1000 cá thể phân bố ở  vùng hạ lưu sông Mekong (Barzen & Seal 2000; BirdLife International 2006).
Biến động số lượng Sếu đầu đỏ ở VQG Tràm Chim 1988-2006 
Nguyễn Hoài Bão, 2007
Đồng bằng sông Cửu Long và Campuchia là những đồng cỏ năng (Eleocharis) rộng lớn. Trong những thập niên gần đây, những khu vực này bị cải tạo thành đất nông nghiệp và vì vậy sếu chỉ sống tập trung ở những khu vực tự nhiên còn  sót lại. Hầu hết những khu vực tự nhiên này hiện là khu bảo vệ bao gồm VQG Tràm Chim, Đồng Hà Tiên và những vùng đất ngập nước gần biên giới của 2 nước Việt Nam và Campuchia, tất cả những khu vực này là sinh cảnh cho sếu kiếm ăn vào mùa khô. So với loài phụ Ấn độ, loài phụ Phương Đông ít thích nghi với sự biến đổi môi trường môi trường sống (Archibald et al. 2003). Mặc dù số lượng quần thể loài phụ Phương Đông không có chiều hướng giảm trong những năm gần đây  (Triet et al. 2006). Tuy nhiên việc biến đổi các vùng đất ngập nước tự nhiên thành đất nông nghiệp cộng với sự ngập úng thường xuyên (trường hợp ở Tràm Chim) đã làm thu hẹp diện tích các đồng cỏ tự nhiên, những sinh cảnh kiếm ăn của sếu vào mùa khô. Phân tích sự biến động quần thể sếu ở Tràm Chim trong vòng 18 năm qua cho thấy sự không ổn định của quần thể và có chiều hướng đi đến tuyệt chủng, điều này thể hiện rõ sự giảm sút môi trường sống và môi trường sinh sản của sếu.

Post a Comment