Wednesday, November 6, 2013

Chim di cư - Migrant birds

Giới thiệu về chim di cư
Di cư là sự di chuyển đều đặn (regular movement) theo mùa hàng năm của một số loài chim, việc di cư nhằm mục đích đáp ứng lại sự thay đổ nguồn thức ăn, sinh cảnh hoặc thời tiết. Đôi khi, sự di chuyển không được xem là di cư thực sự, (chẳng hạn như sự xâm lấn của một số loài, sự bùng nỗ quần thể, sự du cư). Thông thường khi nói đến di cư ở chim là sự di chuyển từ phía bắc xuống phía nam theo dọc đường bay giữa vùng sinh sản và vùng trú đông. 
Ước tính có khoảng 1,800-2,000 loài trong số 10,000 loài chim là di cư, chiếm 20%.
Hơn 40% quần thể các loài chim di cư đang giảm số lượng và có khoảng 200 loài đang bị đe dọa toàn cầu (Birdlife International). Chúng đang phải đối diện với nhiều vấn đề như sự phá hủy sinh cảnh sống, mất những điểm dừng chân quan trọng trên đường bay, nhiễm độc hay ô nhiễm môi trường,… Cụ thể là:
·         Loss of habitat through reclamation of wetlands – Mất sinh cảnh do cải tạo đất ngập nước
·         Loss of habitat due to intensifying agriculture – Mất sinh cảnh do tăng cường nông nghiệp
·         Degradation of  habitat through pollution – suy giảm sinh cảnh do ô nhiễm
·         Reduction or diversion of water supply – suy giảm nguồn nước
·         Increase in disturbance by humans – gia tăng sự quấy nhiễu của con người
·         Invasive plants and predators – thực vật xâm lấn và địch hại
·         Climate change – thay đổi khí hậu
Việt Nam nằm trong vùng đường bay EAAF (màu đỏ). Các loài chim di cư bao gồm nhiều nhóm khác nhau trong đó có các loài thuộc bộ Sẻ (Passeriformes) nhưng khi nói đến chim di cư, thương người ta quan tâm đến các loài chim nước theo bảng dưới đây


Các nhóm (họ) chim nước di cư trong đường bay EAAF
(Nguồn: Partnership for the East Asian – Australasian Flyway)
Taxonomic Group
English Name – Tiếng Việt
Gaviidae
Podicipedidae
Grebes – Le hôi
Phalacrocoracidae
Cormorants – Cồng cộc
Procellariidae
Shearwaters – Hải âu
Oceanitidae
Storm Petrels – Chim báo bão
Pelecanidae
Pelicans – Chàng bè
Ardeidae
Herons, Egrets and Bitterns – Cò và diệc
Ciconiidae
Storks – Hạc
Threskiornithidae
Ibises and Spoonbills – Cò quắm và Cò mỏ thìa
Anatidae
Gruidae
Cranes – Sếu
Rallidae
Heliornithidae
Finfoots – Chân bơi
Jacanidae
Jacanas – Gà lôi nước
Haematopodidae
Recurvirostridae
Stilts and Avocets – Chim Cà kheo
Glareolidae
Pratincoles – Chim dô nách
Charadriidae
Plovers – Choi choi
Scolopacidae
Sandpipers Choắt
Laridae
Gulls, Terns and Skimmers – Mòng/Nhạn biển
Stercorariidae
Alcidae

Một số loài chim di cư quan trọng ở Việt Nam
Là loài chim trong Scolopacidae, sinh sản ở Chukotsk and Kamchatka, phía Đông nước Nga và di cư qua các nước Japan, North Korea, South Korea, China rồi trú đông ở Bangladesh, Myanmar, Việt Nam và Thailand. 
Hiện loài này xếp vào danh sách các loài "cực ky nguy cấp" (Critical Endangered) theo sách đỏ thế giới (IUCN redlist). Ước tính số lượng suy giảm từ 2000-2800 cặp từ thập niên 70 xuống còn ít hơn 100 cặp trong năm 2011.  
Ở Việt Nam, các ghi nhận trước đây với số lượng từ 4-8 cá thể ở VQG Xuân Thủy, Nam Định, 3 cá thể ở bãi bồi thuộc huyện Ba Tri và huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre. Gần đây nhất là 1 cá thể ở Cần Giờ (1/4/2010) và phát hiện điểm dừng chân quan trọng ở huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang với số lượng có mặt thường xuyên vào mùa đông (tháng 12 đến tháng 4) lên đến 8 cá thể.
Xem thêm
2. Các loài chim ven biển khác (Shorebirds/Waders)

Post a Comment